Sunday, Sep 05th

Last update:06:44:01 AM GMT

Home Chuyên đề quân sử

Chuyên đề quân sử

Khởi nguồn PAK FA

Email In PDF.

Dựa trên kết quả nghiên cứu phát triển kĩ thuật hàng không quân sự thực hiện trong thập niên 1970 và điều chỉnh học thuyết quân sự giai đoạn thập niên 1980-1990, Liên xô quyết định triển khai từ năm 1983 chương trình phát triển máy bay tiêm kích chiến thuật thế hệ mới - PFI (ПФИ - Перспективный Фронтовой Истребитель), còn được gọi là đề án I-90 Máy bay tiêm kích cho thập niên 1990 (И-90 истребитель 1990-х годов), nhằm thay thế các loại máy bay tiêm kích hiện đang được trang bị trong lực lượng Phòng không, Không quân và Hải quân Liên xô.

Đề án I-90 được chia làm 3 đề án gồm: đề án Máy bay tiêm kích chiến thuật đa năng MFI (МФИ - Многофункциональный Фронтовой Истребитель) dùng thay thế các hệ thống máy bay tiêm kích phòng không Mig-31 và máy bay tiêm kích chiến thuật hạng nặng Su-27; đề án Máy bay tiêm kích chiến thuật hạng trung SFI (СФИ - Средний Фронтовой Истребитель) dùng thay thế các hệ thống máy bay tiêm kích Mig-29; và đề án Máy bay tiêm kích chiến thuật hạng nhẹ LFI (ЛФИ - Легкий Фронтовой Истребитель) dùng thay thế các hệ thống máy bay huấn luyện vũ trang và tấn công hạng nhẹ khác.

Mô hình hai mẫu thử MFI 1.42 của OKB MiG và SFI S-37 của OKB Sukhoy (ảnh www.testpilot.ru)


Năm 1999, Không quân Nga tiến hành kiểm tra đánh giá các mẫu thử MFI Mig-1.42 và SFI S-37. Kết quả kiểm tra đánh giá cho thấy các mẫu bay thử nghiệm trên dù tiến bộ hơn các hệ thống máy bay tiêm kích cải tiến từ Mig-31, Su-27 và Mig-29, nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu kĩ chiến thuật đặt ra cho hệ thống máy bay tiêm kích chiến thuật thế hệ mới MFI và SFI. Trên cơ sở đánh giá các mặt, Không quân Nga yêu cầu hai tổ hợp công nghiệp hàng không quân sự Mikoyan và Sukhoy đưa ra đề xuất ý tưởng cho chương trình phát triển Hệ thống vũ khí đường không thế hệ mới dành cho Không quân chiến thuật - PAK FA (ПАК ФА - Перспективный авиационный комплекс фронтовой авиации), còn được gọi là đề án I-21 Máy bay tiêm kích cho thế kỉ 21 (И-21 истребитель 21-го века). Như vậy, PAK FA là sự kết hợp yêu cầu kĩ chiến thuật của hai đề án máy bay tiêm kích chiến thuật đa năng MFI và máy bay tiêm kích chiến thuật hạng trung SFI.

Trong cuộc đua giành đề án PAK FA, hãng Sukhoy với đề án thiết kế mẫu T-50 hoàn toàn mới đã vượt qua đối thủ là hãng Mikoyan với đề án thiết kế mẫu 1.44 phát triển từ mẫu MFI 1.42. Từ năm 2002, Sukhoy chính thức được giao phát triển đề án Hệ thống vũ khí đường không thế hệ mới dành cho Không quân chiến thuật - PAK FA.

 

 

huyphongssi

Lực lượng quân sự khối các nước đồng minh của Mỹ ở Việt Nam (P2)

Email In PDF.
ĐẠI HÀN DÂN QUỐC



Đơn vị đầu tiên của quân đội Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc) là toán điều tra, khảo sát tới VN 8/1964. Tiếp đó là đơn vị "Bồ Câu" gồm các thành phần hỗ trợ chiến đấu vào 2/1965. Từ tháng 9/1965, Hàn Quốc bắt đầu triển khai các đơn vị làm nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu gồm 2 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến và các đơn vị bảo đảm khác, đưa quân số Hàn Quốc ở VN lên 50.000 người, đứng thứ hai chỉ sau Mỹ. Quân đội Hàn Quốc tham chiến ở VN trong thời gian 8/1964 - 3/1973 và chịu tổn thất là 4.4071 người chết và 17.060 người bị thương.

Các đơn vị chiến đấu chính gồm:

1. Sư đoàn Thủ đô (tức sư đoàn Mãnh Hổ) được triển khai ở VN từ 09/1965 và tham chiến cho đến 03/1973. Các đơn vị của sư đoàn này chủ yếu hoạt động trên địa bàn phía bắc Vùng II chiến thuật, địa bàn tỉnh Bình Định và Phú Yên.

Thành phần:

- Trung đoàn Kỵ binh, gồm 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn cơ giới, tới Việt Nam từ 10/1965. Đóng quân tại khu vực Bình Khê, Tuy Phước, Vân Canh, Quy Nhơn (Bình Định).

- Trung đoàn bộ binh số 1, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới VN từ 10/1965. Đóng quân tại Núi Bà, Phù Cát (Bình Định).

- Trung đoàn bộ binh số 26, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới VN từ 4/1966. Đóng quân tại Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân (bắc Phú Yên).

- Pháo binh sư đoàn: gồm 3 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 tiểu đoàn pháo 155mm.

- Các đơn vị hỗ trợ chiến đấu và phục vụ chiến đấu khác như tiểu đoàn công binh, đại đội thiết giáp, không quân, trinh sát, thông tin, quân y, quân cảnh....


2. Sư đoàn bộ binh số 9 (tức sư đoàn Bạch Mã) được triển khai ở Việt Nam từ 09/1966 đến 03/1973. Các đơn vị của sư đoàn này chủ yếu hoạt động ở khu vực tỉnh Khánh Hoà.

Thành phần:

- Trung đoàn bộ binh số 28, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới Việt Nam từ 9/1966. Đóng quân tại Tuy Hòa (Phú Yên).

- Trung đoàn bộ binh số 29, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới Việt Nam từ 9/1966. Đóng quân tại Ninh Hòa (Khánh Hòa).

- Trung đoàn bộ binh số 30, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới Việt Nam từ 10/1966. Đóng quân tại Nha Trang (Khánh Hòa).

- Pháo binh sư đoàn: gồm 3 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 tiểu đoàn pháo 155mm.

- Các đơn vị hỗ trợ chiến đấu và phục vụ chiến đấu khác như tiểu đoàn công binh, đại đội thiết giáp, không quân, trinh sát, thông tin, quân y, quân cảnh....


3. Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến số 2 (tức lữ đoàn Thanh Long) tham chiến ở Việt Nam trong thời gian 09/1965 - 02/1972. Các đơn vị của lữ đoàn này đã tham gia các hoạt động tác chiến trên địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên....

Thành phần: 4 tiểu đoàn thủy quân lục chiến (1, 2, 3, 5).


4. Các thành phần khác: gồm các đơn vị hỗ trợ chiến đấu và phục vụ chiến đấu như công binh, thông tin, quân báo, an ninh, vận tải, quân cảnh, hậu cần, tâm lý chiến....

THÁI LAN


Lục quân Hoàng gia Thái Lan tham chiến ở Việt Nam trong thời gian 9/1967 - 3/1972, với quân số lúc cao nhất khoảng 11.570 người. Tổn thất ở Việt Nam là 351 người chết và 1.358 người bị thương (*).


I. LỤC QUÂN

1. Trung đoàn tình nguyện Lục quân Hoàng gia Thái Lan (tức trung đoàn Mãng Xà Vương) gồm một số phân đội bộ binh, pháo binh, thiết giáp... sang Việt Nam 09/1967 và tham chiến đến 08/1968. Trung đoàn này đóng quân tại căn cứ Bàu Cát, chủ yếu kết hợp tác chiến với Sư đoàn bộ binh số 9 của Mỹ ở khu vực xung quanh Sài Gòn.


2. Sư đoàn viễn chinh Lục quân Hoàng gia Thái Lan (tức sư đoàn Hắc Báo) gồm 2 lữ đoàn thường trực, bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ 07/1968. Đến 08/1971, sư đoàn này rút quân, để lại 1 lữ đoàn và một số đơn vị binh chủng tổ chức thành Lực lượng tình nguyện Hoàng gia Thái Lan tiếp tục tham chiến đến 03/1972. Cũng như Trung đoàn Mãng Xà Vương, Sư đoàn Hắc Báo chủ yếu tác chiến ở khu vực xung quanh Sài Gòn.

Thành phần:

- Lữ đoàn 1, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, hoạt động ở Việt Nam từ 01/1969 - 07/1969. Đóng quân tại Long Thành.

- Lữ đoàn 2, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, hoạt động ở Việt Nam từ 01/1969 - 03/1972. Đóng quân tại Nhơn Trạch.

- Lữ đoàn 3, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, hoạt động ở VN từ 07/1969 - 08/1970. Đóng quân tại Nước Trong.

- Pháo binh sư đoàn: gồm 3 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 tiểu đoàn pháo 155mm.

- Các đơn vị khác gồm tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, công binh, thông tin, đại đội trinh sát, không quân, quân cảnh....



II. KHÔNG QUÂN

Không quân Hoàng gia Thái Lan cử sang Việt Nam 16 sĩ quan, nhân viên hỗ trợ và tham gia huấn luyện KQ VNCH từ 8/1964, sau đó bổ sung thêm và được tổ chức thành Phi đội Chiến Thắng (thành lập 06/1967). Quân số lúc cao nhất của Không quân Hoàng gia Thái Lan ở Việt Nam là 45 người, bao gồm:

- Bộ phận sử dụng máy bay vận tải C-47 trong không quân VNCH gồm 3 phi công và 5 nhân viên kỹ thuật.

- Bộ phận sử dụng máy bay vận tải C-123K trong Phi đoàn vận tải chiến thuật 19 của Không quân Mỹ, gồm 9 phi công, 7 nhân viên kỹ thuật và 3 nhân viên hàng hoá.

- Bộ phận làm nhiệm vụ mặt đất như thông tin, kỹ thuật, cơ giới…


III. HẢI QUÂN

Hải quân Hoàng gia Thái Lan hoạt động ở Việt Nam là Lực lượng Hải Mã gồm 185 quân nhân, trang bị 1 tàu đổ bộ LST đặt dưới quyền kiểm sóat của Ban chuyên chở Hàng hải Quân sự (MSTS) và 1 tàu tuần tiễu PGM đặt dưới quyền kiểm sóat của hải quân VNCH, hoạt động từ 12/1966.



(*): Các thống kê quân số và tổn thất này không bao gồm chiến trường Lào.

 

AUSTRALIA


Thành phần quân nhân Australia đầu tiên tới tham chiến ở Việt Nam là các cố vấn quân sự thuộc Đơn vị Huấn luyện của Lục quân Australia, tới Việt Nam ngày 31/07/1962, tham gia huấn luyện QLVNCH. Lực lượng Australia tham chiến ở Việt Nam trong thời gian từ tháng 07/1962 đến tháng 12/1972, chủ yếu hoạt động trên địa bàn Đồng Nai, Biên Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu.... Tổn thất ở Việt Nam là 500 người chết (8 thuộc Hải quân và 14 thuộc Không quân), 3.129 người bị thương (48 thuộc Hải quân và 56 thuộc Không quân) và 6 người mất tích.


I. LỤC QUÂN

Đơn vị chiến đấu đầu tiên của Lục quân Australia là Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Hoàng gia Australia cùng một số phân đội bảo đảm tới Việt Nam. Trong các năm tiếp theo, Australia tiếp tục đưa thêm nhiều đơn vị bộ binh và binh chủng tới Việt Nam, đưa tổng số quân ở thời điểm cao nhất lên 7.670 người (cuối 1969).

Các đơn vị của Lục quân Australia ở Việt Nam được tổ chức thành:

- Lực lượng Đặc nhiệm số 1 (1st Australian Task Force - 1 ATF).

- Đoàn Hỗ trợ Hậu cần số 1 (Australian Logistic Support Group - 1 ALSG)

- Đội Huấn luyện của Lục quân (Australian Army Training Team Vietnam - AATTV)


1. Lực lượng Đặc nhiệm số 1

- Bộ binh: lực lượng thường trực là Trung đoàn Hoàng gia Australia có 3-4 tiểu đoàn bộ binh (tuỳ thời điểm). Tổng cộng có 9 tiểu đoàn (1-9) đã lần lượt thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 05/1965 - 03/1972.

- Thiết giáp: lực lượng thường trực có 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn thiết giáp số 3 và 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn kỵ binh số 1 cùng một số phân đội hỗ trợ, bảo đảm. Tổng cộng có 3 tiểu đoàn thiết giáp (A, B, C) và 2 tiểu đoàn kỵ binh (A, B) đã lần lượt thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 09/1965 - 03/1972.

- Pháo binh: lực lượng thường trực có khoảng 2 trung đoàn thiếu cùng một số phân đội hỗ trợ, bảo đảm. Tổng cộng 3 trung đoàn pháo binh (1, 4, 12) đã lần lượt thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 09/1965 - 12/1971.

- Không quân: gồm 1 phi đội trinh sát (116), hoạt động ở Việt Nam từ 09/1965 - 03/1972.

- Lực lượng đặc biệt: lực lượng thường trực có khoảng 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn đặc nhiệm đường không (SAS). Tổng cộng có 3 tiểu đoàn (1, 2, 3) đã thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 04/1966 - 10/1971.

- Các lực lượng khác: gồm các đơn vị công binh, thông tin, quân báo, và các đơn vị hỗ trợ chiến đấu khác....


2. Đoàn Hỗ trợ Hậu cần số 1

Đoàn Hỗ trợ Hậu cần số 1 gồm các đơn vị phục vụ chiến đấu như hành chính, quân y, vận tải, xăng dầu, kỹ thuật....


3. Đội Huấn luyện của Lục quân

Thường xuyên có khoảng trên 100 cố vấn quân sự Australia giúp huấn luyện các đơn vị của lục quân và lực lượng đặc biệt QLVNCH. Tổng cộng 990 cố vấn quân sự Australia đã có mặt ở Việt Nam.


II. KHÔNG QUÂN

Các đơn vị của Không quân Hoàng gia Australia tham chiến ở Việt Nam gồm có:

- Phi đoàn 35, trang bị 6 máy bay vận tải Caribou, hoạt động ở Việt Nam từ 08/1964 - 02/1972.

- Phi đoàn 9, trang bị trực thăng UH-1H, hoạt động ở Việt Nam từ 04/1966 - 11/1971, thường được phối thuộc cho Lực lượng Đặc nhiệm số 1.

- Phi đoàn 2, trang bị máy bay ném bom Canberra, hoạt động ở Việt Nam từ tháng 4/1967 - 6/1971 trong đội hình Liên đoàn chiến thuật 35 của Không quân Mỹ.

- Các đơn vị bảo đảm khác.


III. HẢI QUÂN

- Các tàu vận tải làm nhiệm vụ vận chuyển hàng gồm HMAS Sydney (05/1965 - 03/1972), HMAS Jerapit (06/1966 - 03/1972) và HMAS Boonaroo (06/1966).

- Các tàu chiến làm nhiệm vụ chi viện hoả lực gồm các khu trục hạm HMAS Brisbane (03 - 10/1969, 03 - 10/1971), HMAS Perth (09/1967 - 04/1968, 09/1968 - 04/69, 9/70-4/71), HMAS Hobart (03 - 09/1967, 03 - 10/1968, 03 - 10/1970), HMAS Vendetta (09/1969 - 04/1970), được phối thuộc cho Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ.

- Một phi đội trực thăng được phối thuộc cho Đại đội trực thăng xung kích 135 của Lục quân Mỹ, hoạt động từ 10/1967 - 06/1971.

- Đội thợ lặn 3, được bố trí phục vụ phòng thủ cảng Vũng Tàu (02/1967 - 08/1970) và Đà Nẵng (08/1970 - 04/1971).

 

PHILIPPINES


Tháng 08/1964, quân đội Philippines cử sang một nhóm 16 sĩ quan hỗ trợ QLVNCH về chiến tranh tâm lý và hoạt động dân sự. Đến 09/1966 một lực lượng Philippines được gửi sang Việt Nam, được tổ chức thành Đoàn Công tác dân sự số 1 (1st Philippine Civic Action Group - PHILCAG) với quân số 2.060 người, triển khai tới 1/1970. Căn cứ của PHILCAG đặt ở Tây Ninh, trong thời gian hoạt động có rất ít đụng độ giữa lực lượng PHILCAG với Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tổn thất ở Việt Nam là 2 người chết và 17 người bị thương.

Thành phần:

- Tiểu đoàn pháo binh 105mm.

- Tiểu đoàn an ninh.

- Tiểu đoàn công binh công trình.

- Tiểu đoàn quân y.

- Các đơn vị hành chính và hậu cần.


NEW ZEALAND



Từ 07/1965 - 06/1972, New Zealand đưa sang Việt Nam một lực lượng nhỏ mang phiên hiệu Lực lượng V gồm bộ binh, pháo binh và các đơn vị khác. Đơn vị này có quân số 566 người, được sáp nhập với các đơn vị Australia để tạo thành lực lượng hỗn hợp ANZAC (Australian-New Zealand Army Corps). Tổn thất ở Việt Nam là 55 người chết và 212 người bị thương.

Các đơn vị New Zealand ở Việt Nam gồm:

- Đại đội pháo binh 161 (pháo 105mm), 7/1965 - 3/1971.

- Đại đội bộ binh V thuộc Tiểu đoàn New Zealand Lữ đoàn 28 Khối thịnh vượng chung, 5/1967 - cuối 1971.

- Đại đội bộ binh W thuộc tiểu đoàn New Zealand Lữ đoàn 28 Khối thịnh vượng chung, 12/1967 - 11/1970.

- Đại đội 4 thuộc lực lượng đặc nhiệm đường không (SAS).

- Một bộ phận không quân gồm 155 người, trong đó có bộ phận Phi đội 9 trực thăng vũ trang, đơn vị máy bay vận tải Briton và trinh sát đường không.

- Hai đội huấn luyện gồm 43 người, làm nhiệm vụ huấn luyện các đơn vị bộ binh Campuchia.

- Các đơn vị bảo đảm khác.



TRUNG HOA DÂN QUỐC


Từ tháng 10/1968, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) cử sang Việt Nam một đoàn cố vấn quân sự gồm 31 người, chia làm 6 nhóm hoạt động ở 4 Vùng chiến thuật, Biệt khu Thủ đô và Trường võ bị Đà Lạt.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam 1964 - 1973, NXB Quân đội nhân dân, 2009.

Shelby L. Stanton, Vietnam Order of Battle: A Complete Illustrated Reference to U.S. Army Combat and Support Forces in Vietnam 1961-1973, U.S News Books, Washington D.C.  

Lt Gen Stanley R. Larsen & Brig Gen James L. Collins, Jr, Allied Participation in Vietnam, Department of the Army, Washington, D.C. 1985  

Australian Order of Battle for Vietnam 1962-1972 © Brian Ross

Website: http://www.rjsmith.com/kia_tbl.html

Lực lượng quân sự các bên trong KCCM (P1)

Email In PDF.
Lực lượng quân sự Mỹ tham chiến ở Việt Nam


PHẦN I - LỤC QUÂN


Từ 1954 đến 1975 có tổng cộng 4.368.000 lượt quân nhân thuộc Lục quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Vào thời điểm cao nhất, Lục quân Mỹ ở Việt Nam có quân số 363.000 người. Tổn thất ở Việt Nam là 38.218 người chết, 96.802 người bị thương và 617 người mất tích.


I. THỐNG KÊ CÁC ĐƠN VỊ CHIẾN ĐẤU

1. Cấp quân đoàn


1.1. Lực lượng Dã chiến I (I Field Force, Vietnam - I FFV)

Dã chiến I thành lập ngày 15/03/1966 với nhiệm vụ điều hành các hoạt động tác chiến của quân Mỹ và đồng minh trên địa bàn Vùng II chiến thuật, sở chỉ huy đặt tại Nha Trang. Dã chiến I giải thể ngày 30/04/1971.

Các đơn vị chính từng thuộc biên chế Dã chiến I:
-   Sư đoàn kỵ binh số 1.
-   Sư đoàn bộ binh số 4.
-   Lữ đoàn 3, sư đoàn bộ binh 25.
-   Lữ đoàn 1, sư đoàn đổ bộ đường không 101.
-   Lữ đoàn đổ bộ đường không 173.
-   Liên đoàn pháo binh 41.
-   Liên đoàn pháo binh 52.
-   Lữ đoàn công binh 18.

1.2. Lực lượng Dã chiến II (II Field Force, Vietnam - II FFV)

Dã chiến II thành lập ngày 15/03/1966 với nhiệm vụ điều hành các hoạt động tác chiến của quân Mỹ và đồng minh trên địa bàn Vùng III chiến thuật, sở chỉ huy đặt tại Biên Hoà, Long Bình. Đây là lực lượng tác chiến lớn nhất của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Dã chiến II giải thể ngày 02/05/1971.

Các đơn vị chính từng thuộc biên chế Dã chiến II:
-   Sư đoàn kỵ binh số 1.
-   Sư đoàn bộ binh số 1.
-   Sư đoàn bộ binh số 9.
-   Sư đoàn bộ binh 25.
-   Sư đoàn đổ bộ đường không 101.
-   Lữ đoàn 3 Sư đoàn bộ binh số 4.
-   Lữ đoàn 3 Sư đoàn đổ bộ đường không 82.
-   Lữ đoàn bộ binh 196.
-   Lữ đoàn bộ binh 199.
-   Lữ đoàn đổ bộ đường không 173.
-   Trung đoàn kỵ binh thiết giáp 11.
-   Liên đoàn pháo binh 23.
-   Liên đoàn pháo binh 54.
-   Lữ đoàn công binh 20.

1.3. Quân đoàn 24 (XXIV Corps)

Quân đoàn 24 thành lập ngày 15/08/1968 với nhiệm vụ điều hành các hoạt động tác chiến của quân Mỹ và đồng minh trên địa bàn Vùng I chiến thuật, sở chỉ huy đặt tại Phú Bài và sau đó chuyển về Đà Nẵng. Quân đoàn 24 giải thể ngày 30/06/1972.

Các đơn vị chính từng thuộc biên chế Quân đoàn 24:
-   Sư đoàn kỵ binh số 1.
-   Sư đoàn bộ binh 23.
-   Sư đoàn đổ bộ đường không 101.
-   Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh cơ giới số 5.
-   Lữ đoàn bộ binh 196.
-   Lữ đoàn 3 Sư đoàn đổ bộ đường không 82.
-   Liên đoàn pháo binh 108.

2. Cấp sư đoàn

2.1. Sư đoàn kỵ binh số 1

Sư đoàn kỵ binh số 1 ("The First Team") tới Việt Nam 09/1965, là sư đoàn hoàn chỉnh đầu tiên của quân đội Mỹ được điều động sang Việt Nam.Từ 10/1965 đến 01/1968 sư đoàn này hoạt động trên địa bàn Vùng II chiến thuật như Tây Nguyên, Bình Định, Bình Thuận. Từ 01/1968 đến 10/1968 hoạt động trên địa bàn Vùng I chiến thuật như Huế, Thừa Thiên, Quảng Trị... Từ 10/1968 hoạt động trên địa bàn Vùng III và Vùng IV, tham gia cả các cuộc hành quân sang đất Cam-pu-chia. Sư đoàn này rút khỏi Việt Nam 04/1971, để lại Lữ đoàn 3 hoạt động độc lập. Đến 06/1972 hoàn tất rút quân khỏi Việt Nam.

Tổ chức:
-   BCH Sư đoàn.
-   BCH Lữ đoàn 1.
-   BCH Lữ đoàn 2.
-   BCH Lữ đoàn 3.
-   BCH Pháo binh sư đoàn.
-   BCH Hậu cần.

Biên chế lực lượng:
-   Bộ binh: 9 tiểu đoàn bộ binh.
-   Pháo binh: 4 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 tiểu đoàn pháo 155mm, 1 tiểu đoàn trực thăng phóng rocket, 1 đại đội trinh sát đường không.
-   Không quân: 1 liên đội không quân gồm 2 tiểu đoàn trực thăng xung kích, 1 tiểu đoàn trực thăng hỗ trợ xung kích, 1 đại đội hỗ trợ chung, 1 đại đội vận tải cánh bằng và 1 đại đội trực thăng hạng nặng.
-   Trinh sát: 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận, 1 đại đội trinh sát tầm xa và 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 tiểu đoàn bảo dưỡng, 1 tiểu đoàn hậu cần, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội quản trị.

2.2. Sư đoàn bộ binh số 1

Sư đoàn bộ binh số 1 ("Big Red One") tới Việt Nam từ tháng 10/1965, hoạt động chủ yếu trên địa bàn Vùng III chiến thuật như Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long... Đến 04/1970 rút quân khỏi Việt Nam.

Tổ chức:
-   BCH Sư đoàn.
-   BCH Lữ đoàn 1.
-   BCH Lữ đoàn 2.
-   BCH Lữ đoàn 3.
-   BCH Pháo binh sư đoàn.
-   BCH Hậu cần.

Biên chế lực lượng:
-   Bộ binh: 7 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới.
-   Pháo binh: 4 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 tiểu đoàn pháo 155mm, 1 đại đội trinh sát.
-   Không quân: 1 tiểu đoàn không quân gồm 2 đại đội cơ động đường không và 1 đại đội kỵ binh không vận.
-   Trinh sát: 1 tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội trinh sát tầm xa, 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn hậu cần và vận tải, 1 tiểu đoàn bảo dưỡng, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội quản trị.

2.3. Sư đoàn bộ binh số 4

Sư đoàn bộ binh số 4 ("Ivy Division") tới Việt Nam tháng 09/1966. Sư đoàn này chủ yếu hoạt động trên địa bàn Vùng II chiến thuật, một số bộ phận đi phối thuộc với các đơn vị khác hoạt động ở Vùng I và III. Tháng 06/1970 tham gia các cuộc hành quân vào đất Cam-pu-chia. Tháng 12/1970 rút quân khỏi Việt Nam.

Tổ chức:
-   BCH Sư đoàn.
-   BCH Lữ đoàn 1.
-   BCH Lữ đoàn 2.
-   BCH Lữ đoàn 3.
-   BCH Pháo binh sư đoàn.
-   BCH Hậu cần.

Biên chế lực lượng:
-   Bộ binh: 8 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới.
-   Pháo binh: 4 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 tiểu đoàn pháo 155mm.
-   Không quân: 1 tiểu đoàn không quân.
-   Thiết giáp: 1 tiểu đoàn thiết giáp (xe tăng).
-   Trinh sát: 1 tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, 2 đại đội trinh sát tầm xa, 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn hậu cần và vận tải, 1 tiểu đoàn bảo dưỡng, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội quản trị.

2.4. Sư đoàn bộ binh số 9

Sư đoàn bộ binh số 9 ("Old Reliables") tới Việt Nam tháng 12/1966. Sư đoàn này hoạt động chủ yếu trên địa bàn Vùng III và IV. Đến 08/1969 rút khỏi Việt Nam, để lại Lữ đoàn 3 hoạt động độc lập. Đến 10/1970 hoàn thành rút quân khỏi Việt Nam.

Tổ chức:
-   BCH Sư đoàn.
-   BCH Lữ đoàn 1.
-   BCH Lữ đoàn 2.
-   BCH Lữ đoàn 3.
-   BCH Pháo binh sư đoàn.
-   BCH Hậu cần.

Biên chế lực lượng:
-   Bộ binh: 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, 3 tiểu đoàn bộ binh cơ động đường sông.
-   Pháo binh: 3 tiểu đoàn pháo 105mm (1 tiểu đoàn cơ động đường sông), 1 tiểu đoàn pháo 155mm, 1 đại đội quan sát.
-   Không quân: 1 tiểu đoàn không quân.
-   Trinh sát: 1 tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội trinh sát tầm xa, 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn hậu cần và vận tải, 1 tiểu đoàn bảo dưỡng, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội quản trị.

2.5. Sư đoàn bộ binh 23

Sư đoàn bộ binh 23 (AMERICAL) được tổ chức tháng 09/1967 từ các lữ đoàn bộ binh nhẹ 11, 196, 198. Sư đoàn này hoạt động chủ yếu trên địa bàn Vùng I như Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi... Đến 11/1971 giải thể và rút quân, chuyển lại Lữ đoàn 199 thành đơn vị độc lập, đến 06/1972 mới rút hết.

Tổ chức:
-   BCH Sư đoàn.
-   BCH Lữ đoàn 11.
-   BCH Lữ đoàn 196.
-   BCH Lữ đoàn 198.
-   BCH Pháo binh sư đoàn.
-   BCH Hậu cần.

Biên chế lực lượng:
-   Bộ binh: 11 tiểu đoàn bộ binh.
-   Pháo binh: 3 tiểu đoàn pháo 105mm, 2 tiểu đoàn pháo 155mm, 1 tiểu đoàn pháo tự hành 175mm và 203mm, 1 đại đội súng máy .50 cal.
-   Không quân: 1 liên đoàn không quân gồm 2 tiểu đoàn chiến đấu và 1 tiểu đoàn cơ động đường không.
-   Trinh sát: 2 đại đội kỵ binh không vận, 2 đại đội kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội trinh sát tầm xa, 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn hậu cần và vận tải, 1 tiểu đoàn bảo dưỡng, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội quản trị.

2.6. Sư đoàn bộ binh 25

Sư đoàn bộ binh 25 ("Tropic Lightning") tới Việt Nam 03/1966, hoạt động chủ yếu ở địa bàn Vùng III và tham gia hành quân sang đất Cam-pu-chia, một bộ phận phối thuộc cho các đơn vị khác hoạt động ở Vùng II. Đến 12/1970 rút khỏi Việt Nam, để lại Lữ đoàn 2 hoạt động độc lập, đến 04/1971 hoàn thành rút quân khỏi Việt Nam.

Tổ chức:
-   BCH Sư đoàn.
-   BCH Lữ đoàn 1.
-   BCH Lữ đoàn 2.
-   BCH Lữ đoàn 3.
-   BCH Pháo binh sư đoàn.
-   BCH Hậu cần.

Biên chế lực lượng:
-   Bộ binh: 6 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn bộ binh cơ giới.
-   Pháo binh: 4 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 tiểu đoàn pháo 155mm.
-   Không quân: 1 tiểu đoàn không quân.
-   Thiết giáp: 1 tiểu đoàn thiết giáp (xe tăng).
-   Trinh sát: 1 tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội trinh sát tầm xa và 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 tiểu đoàn bảo dưỡng, 1 tiểu đoàn hậu cần, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội quản trị.

2.7. Sư đoàn đổ bộ đường không 101

Sư đoàn đổ bộ đường không 101 ("Screaming Eagles") cử lữ đoàn 1 sang Việt Nam từ 07/1965, hoạt động ở Vùng II. Sư đoàn sang Việt Nam 11/1967, hoạt động chủ yếu ở Vùng I và III. Đến 03/1972 rút quân khỏi Việt Nam.

Tổ chức:
-   BCH Sư đoàn.
-   BCH Lữ đoàn 1.
-   BCH Lữ đoàn 2.
-   BCH Lữ đoàn 3.
-   BCH Pháo binh sư đoàn.
-   BCH Hậu cần.

Biên chế lực lượng:
-   Bộ binh: 10 tiểu đoàn bộ binh cơ động đường không.
-   Pháo binh: 4 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 tiểu đoàn pháo 155mm, 1 tiểu đoàn trực thăng phóng rocket, 1 đại đội trinh sát đường không.
-   Không quân: 1 liên đội không quân gồm 2 tiểu đoàn trực thăng xung kích, 1 tiểu đoàn cơ động đường không, 1 đại đội hỗ trợ chung, 1 đại đội trực thăng hạng nặng.
-   Trinh sát: 1 tiểu đoàn kỵ binh, 1 đại đội trinh sát tầm xa và 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 tiểu đoàn bảo dưỡng, 1 tiểu đoàn hậu cần, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội quản trị.

3. Cấp lữ đoàn

3.1. Lữ đoàn đổ bộ đường không 173

Lữ đoàn đổ bộ đường không 173 ("Sky Soldiers") tới Việt Nam 05/1965, hoạt động trên nhiều khu vực của Vùng II và III như Tây Nguyên, Tây Ninh, Biên Hoà, Bình Định, Bình Thuận... Đến 08/1971 rút khỏi Việt Nam.
Biên chế:
-   Bộ binh: 4 tiểu đoàn bộ binh đổ bộ đường không.
-   Pháo binh: 1 tiểu đoàn pháo 105mm.
-   Không quân: 1 đại đội không quân.
-   Trinh sát: 1 đại đội thiết giáp (pháo chống tăng tự hành), 1 đại đội kỵ binh thiết giáp.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn hỗ trợ, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin.

Trong giai đoạn đầu lữ đoàn còn được phối thuộc thêm Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Hoàng gia Australia.

3.2. Lữ đoàn bộ binh nhẹ 11

Lữ đoàn bộ binh nhẹ 11 tới Việt Nam 09/1967, đến 02/1969 chính thức được biên chế vào sư đoàn bộ binh 23 mới tổ chức. Lữ đoàn này hoạt động chủ yếu trên địa bàn Quảng Ngãi và Quảng Tín ở Vùng I. Đến 11/1971 rút khỏi Việt Nam.

Biên chế:
-   Bộ binh: 4 tiểu đoàn bộ binh.
-   Pháo binh: 1 tiểu đoàn pháo 105mm.
-   Trinh sát: 1 đại đội kỵ binh thiết giáp.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn hỗ trợ, 1 đại đội công binh.

3.3. Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196

Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 tới Việt Nam 08/1966, hoạt động ở địa bàn Vùng III. Đến 04/1967 được biên chế vào Lực lượng OREGON và chuyển tới Vùng I. Đến 02/1969 chính thức trực thuộc sư đoàn bộ binh 23. Đến 11/1971 trở lại thành đơn vị độc lập và rời Việt Nam 06/1972.

Biên chế:
-   Bộ binh: 4 tiểu đoàn bộ binh.
-   Pháo binh: 1 tiểu đoàn pháo 105mm.
-   Trinh sát: 1 đại đội kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội kỵ binh không vận.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn hỗ trợ, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin.

3.4. Lữ đoàn bộ binh nhẹ 198

Lữ đoàn bộ binh nhẹ tới Việt Nam 10/1967, biên chế vào Lực lượng OREGON và sau đó chuyển sang sư đoàn bộ binh 23, hoạt động ở Vùng I. Đến 11/1971 rút khỏi Việt Nam.

Biên chế:
-   Bộ binh: 4 tiểu đoàn bộ binh.
-   Pháo binh: 1 tiểu đoàn pháo 105mm.
-   Trinh sát: 1 đại đội kỵ binh thiết giáp.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn hỗ trợ, 1 đại đội công binh.

3.5. Lữ đoàn bộ binh nhẹ 199

Lữ đoàn bộ binh nhẹ 199 tới Việt Nam 12/1966, hoạt động trên địa bàn Vùng III như Biên Hoà, Sài Gòn, Long Bình, Xuân Lộc... Đến 10/1970 rút khỏi Việt Nam.

Biên chế:
-   Bộ binh: 4 tiểu đoàn bộ binh.
-   Pháo binh: 1 tiểu đoàn pháo 105mm.
-   Trinh sát: 1 đại đội kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội trinh sát tầm xa, 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn hỗ trợ, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin.

3.6. Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh cơ giới số 5

Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh cơ giới số 5 tới Việt Nam 07/1968, được bố trí hoạt động trên địa bàn Quảng Trị và tham gia hành quân sang Lào 01/1971. Đến 08/1971 rút quân khỏi Việt Nam.
Biên chế:
-   Bộ binh: 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới.
-   Pháo binh: 1 tiểu đoàn pháo tự hành 155mm.
-   Thiết giáp: 1 tiểu đoàn thiết giáp (xe tăng).
-   Trinh sát: 1 đại đội kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn hỗ trợ, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin.

3.7. Lữ đoàn 3 Sư đoàn đổ bộ đường không 82

Lữ đoàn 3 Sư đoàn đổ bộ đường không 82 tới Việt Nam 02/1968, bố trí hoạt động ở Huế. Đến 09/1968 được điều vào khu vực Sài Gòn. Đến 12/1969 rút khỏi Việt Nam.

Biên chế:
-   Bộ binh: 3 tiểu đoàn bộ binh đổ bộ đường không.
-   Pháo binh: 1 tiểu đoàn pháo 105mm.
-   Không quân: 1 đại đội không quân.
-   Trinh sát: 1 đại đội kỵ binh thiết giáp, 1 đại đội biệt kích.
-   Các đơn vị hỗ trợ: 1 tiểu đoàn hỗ trợ, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin.