Sunday, Sep 05th

Last update:06:44:01 AM GMT

Home Chuyên đề quân sử Chuyên đề quân sử Lực lượng quân sự khối các nước đồng minh của Mỹ ở Việt Nam (P2)

Lực lượng quân sự khối các nước đồng minh của Mỹ ở Việt Nam (P2)

Email In PDF.
ĐẠI HÀN DÂN QUỐC



Đơn vị đầu tiên của quân đội Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc) là toán điều tra, khảo sát tới VN 8/1964. Tiếp đó là đơn vị "Bồ Câu" gồm các thành phần hỗ trợ chiến đấu vào 2/1965. Từ tháng 9/1965, Hàn Quốc bắt đầu triển khai các đơn vị làm nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu gồm 2 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến và các đơn vị bảo đảm khác, đưa quân số Hàn Quốc ở VN lên 50.000 người, đứng thứ hai chỉ sau Mỹ. Quân đội Hàn Quốc tham chiến ở VN trong thời gian 8/1964 - 3/1973 và chịu tổn thất là 4.4071 người chết và 17.060 người bị thương.

Các đơn vị chiến đấu chính gồm:

1. Sư đoàn Thủ đô (tức sư đoàn Mãnh Hổ) được triển khai ở VN từ 09/1965 và tham chiến cho đến 03/1973. Các đơn vị của sư đoàn này chủ yếu hoạt động trên địa bàn phía bắc Vùng II chiến thuật, địa bàn tỉnh Bình Định và Phú Yên.

Thành phần:

- Trung đoàn Kỵ binh, gồm 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn cơ giới, tới Việt Nam từ 10/1965. Đóng quân tại khu vực Bình Khê, Tuy Phước, Vân Canh, Quy Nhơn (Bình Định).

- Trung đoàn bộ binh số 1, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới VN từ 10/1965. Đóng quân tại Núi Bà, Phù Cát (Bình Định).

- Trung đoàn bộ binh số 26, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới VN từ 4/1966. Đóng quân tại Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân (bắc Phú Yên).

- Pháo binh sư đoàn: gồm 3 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 tiểu đoàn pháo 155mm.

- Các đơn vị hỗ trợ chiến đấu và phục vụ chiến đấu khác như tiểu đoàn công binh, đại đội thiết giáp, không quân, trinh sát, thông tin, quân y, quân cảnh....


2. Sư đoàn bộ binh số 9 (tức sư đoàn Bạch Mã) được triển khai ở Việt Nam từ 09/1966 đến 03/1973. Các đơn vị của sư đoàn này chủ yếu hoạt động ở khu vực tỉnh Khánh Hoà.

Thành phần:

- Trung đoàn bộ binh số 28, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới Việt Nam từ 9/1966. Đóng quân tại Tuy Hòa (Phú Yên).

- Trung đoàn bộ binh số 29, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới Việt Nam từ 9/1966. Đóng quân tại Ninh Hòa (Khánh Hòa).

- Trung đoàn bộ binh số 30, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, tới Việt Nam từ 10/1966. Đóng quân tại Nha Trang (Khánh Hòa).

- Pháo binh sư đoàn: gồm 3 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 tiểu đoàn pháo 155mm.

- Các đơn vị hỗ trợ chiến đấu và phục vụ chiến đấu khác như tiểu đoàn công binh, đại đội thiết giáp, không quân, trinh sát, thông tin, quân y, quân cảnh....


3. Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến số 2 (tức lữ đoàn Thanh Long) tham chiến ở Việt Nam trong thời gian 09/1965 - 02/1972. Các đơn vị của lữ đoàn này đã tham gia các hoạt động tác chiến trên địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên....

Thành phần: 4 tiểu đoàn thủy quân lục chiến (1, 2, 3, 5).


4. Các thành phần khác: gồm các đơn vị hỗ trợ chiến đấu và phục vụ chiến đấu như công binh, thông tin, quân báo, an ninh, vận tải, quân cảnh, hậu cần, tâm lý chiến....

THÁI LAN


Lục quân Hoàng gia Thái Lan tham chiến ở Việt Nam trong thời gian 9/1967 - 3/1972, với quân số lúc cao nhất khoảng 11.570 người. Tổn thất ở Việt Nam là 351 người chết và 1.358 người bị thương (*).


I. LỤC QUÂN

1. Trung đoàn tình nguyện Lục quân Hoàng gia Thái Lan (tức trung đoàn Mãng Xà Vương) gồm một số phân đội bộ binh, pháo binh, thiết giáp... sang Việt Nam 09/1967 và tham chiến đến 08/1968. Trung đoàn này đóng quân tại căn cứ Bàu Cát, chủ yếu kết hợp tác chiến với Sư đoàn bộ binh số 9 của Mỹ ở khu vực xung quanh Sài Gòn.


2. Sư đoàn viễn chinh Lục quân Hoàng gia Thái Lan (tức sư đoàn Hắc Báo) gồm 2 lữ đoàn thường trực, bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ 07/1968. Đến 08/1971, sư đoàn này rút quân, để lại 1 lữ đoàn và một số đơn vị binh chủng tổ chức thành Lực lượng tình nguyện Hoàng gia Thái Lan tiếp tục tham chiến đến 03/1972. Cũng như Trung đoàn Mãng Xà Vương, Sư đoàn Hắc Báo chủ yếu tác chiến ở khu vực xung quanh Sài Gòn.

Thành phần:

- Lữ đoàn 1, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, hoạt động ở Việt Nam từ 01/1969 - 07/1969. Đóng quân tại Long Thành.

- Lữ đoàn 2, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, hoạt động ở Việt Nam từ 01/1969 - 03/1972. Đóng quân tại Nhơn Trạch.

- Lữ đoàn 3, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, hoạt động ở VN từ 07/1969 - 08/1970. Đóng quân tại Nước Trong.

- Pháo binh sư đoàn: gồm 3 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 tiểu đoàn pháo 155mm.

- Các đơn vị khác gồm tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, công binh, thông tin, đại đội trinh sát, không quân, quân cảnh....



II. KHÔNG QUÂN

Không quân Hoàng gia Thái Lan cử sang Việt Nam 16 sĩ quan, nhân viên hỗ trợ và tham gia huấn luyện KQ VNCH từ 8/1964, sau đó bổ sung thêm và được tổ chức thành Phi đội Chiến Thắng (thành lập 06/1967). Quân số lúc cao nhất của Không quân Hoàng gia Thái Lan ở Việt Nam là 45 người, bao gồm:

- Bộ phận sử dụng máy bay vận tải C-47 trong không quân VNCH gồm 3 phi công và 5 nhân viên kỹ thuật.

- Bộ phận sử dụng máy bay vận tải C-123K trong Phi đoàn vận tải chiến thuật 19 của Không quân Mỹ, gồm 9 phi công, 7 nhân viên kỹ thuật và 3 nhân viên hàng hoá.

- Bộ phận làm nhiệm vụ mặt đất như thông tin, kỹ thuật, cơ giới…


III. HẢI QUÂN

Hải quân Hoàng gia Thái Lan hoạt động ở Việt Nam là Lực lượng Hải Mã gồm 185 quân nhân, trang bị 1 tàu đổ bộ LST đặt dưới quyền kiểm sóat của Ban chuyên chở Hàng hải Quân sự (MSTS) và 1 tàu tuần tiễu PGM đặt dưới quyền kiểm sóat của hải quân VNCH, hoạt động từ 12/1966.



(*): Các thống kê quân số và tổn thất này không bao gồm chiến trường Lào.

 

AUSTRALIA


Thành phần quân nhân Australia đầu tiên tới tham chiến ở Việt Nam là các cố vấn quân sự thuộc Đơn vị Huấn luyện của Lục quân Australia, tới Việt Nam ngày 31/07/1962, tham gia huấn luyện QLVNCH. Lực lượng Australia tham chiến ở Việt Nam trong thời gian từ tháng 07/1962 đến tháng 12/1972, chủ yếu hoạt động trên địa bàn Đồng Nai, Biên Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu.... Tổn thất ở Việt Nam là 500 người chết (8 thuộc Hải quân và 14 thuộc Không quân), 3.129 người bị thương (48 thuộc Hải quân và 56 thuộc Không quân) và 6 người mất tích.


I. LỤC QUÂN

Đơn vị chiến đấu đầu tiên của Lục quân Australia là Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Hoàng gia Australia cùng một số phân đội bảo đảm tới Việt Nam. Trong các năm tiếp theo, Australia tiếp tục đưa thêm nhiều đơn vị bộ binh và binh chủng tới Việt Nam, đưa tổng số quân ở thời điểm cao nhất lên 7.670 người (cuối 1969).

Các đơn vị của Lục quân Australia ở Việt Nam được tổ chức thành:

- Lực lượng Đặc nhiệm số 1 (1st Australian Task Force - 1 ATF).

- Đoàn Hỗ trợ Hậu cần số 1 (Australian Logistic Support Group - 1 ALSG)

- Đội Huấn luyện của Lục quân (Australian Army Training Team Vietnam - AATTV)


1. Lực lượng Đặc nhiệm số 1

- Bộ binh: lực lượng thường trực là Trung đoàn Hoàng gia Australia có 3-4 tiểu đoàn bộ binh (tuỳ thời điểm). Tổng cộng có 9 tiểu đoàn (1-9) đã lần lượt thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 05/1965 - 03/1972.

- Thiết giáp: lực lượng thường trực có 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn thiết giáp số 3 và 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn kỵ binh số 1 cùng một số phân đội hỗ trợ, bảo đảm. Tổng cộng có 3 tiểu đoàn thiết giáp (A, B, C) và 2 tiểu đoàn kỵ binh (A, B) đã lần lượt thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 09/1965 - 03/1972.

- Pháo binh: lực lượng thường trực có khoảng 2 trung đoàn thiếu cùng một số phân đội hỗ trợ, bảo đảm. Tổng cộng 3 trung đoàn pháo binh (1, 4, 12) đã lần lượt thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 09/1965 - 12/1971.

- Không quân: gồm 1 phi đội trinh sát (116), hoạt động ở Việt Nam từ 09/1965 - 03/1972.

- Lực lượng đặc biệt: lực lượng thường trực có khoảng 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn đặc nhiệm đường không (SAS). Tổng cộng có 3 tiểu đoàn (1, 2, 3) đã thay phiên nhau sang Việt Nam trong thời gian 04/1966 - 10/1971.

- Các lực lượng khác: gồm các đơn vị công binh, thông tin, quân báo, và các đơn vị hỗ trợ chiến đấu khác....


2. Đoàn Hỗ trợ Hậu cần số 1

Đoàn Hỗ trợ Hậu cần số 1 gồm các đơn vị phục vụ chiến đấu như hành chính, quân y, vận tải, xăng dầu, kỹ thuật....


3. Đội Huấn luyện của Lục quân

Thường xuyên có khoảng trên 100 cố vấn quân sự Australia giúp huấn luyện các đơn vị của lục quân và lực lượng đặc biệt QLVNCH. Tổng cộng 990 cố vấn quân sự Australia đã có mặt ở Việt Nam.


II. KHÔNG QUÂN

Các đơn vị của Không quân Hoàng gia Australia tham chiến ở Việt Nam gồm có:

- Phi đoàn 35, trang bị 6 máy bay vận tải Caribou, hoạt động ở Việt Nam từ 08/1964 - 02/1972.

- Phi đoàn 9, trang bị trực thăng UH-1H, hoạt động ở Việt Nam từ 04/1966 - 11/1971, thường được phối thuộc cho Lực lượng Đặc nhiệm số 1.

- Phi đoàn 2, trang bị máy bay ném bom Canberra, hoạt động ở Việt Nam từ tháng 4/1967 - 6/1971 trong đội hình Liên đoàn chiến thuật 35 của Không quân Mỹ.

- Các đơn vị bảo đảm khác.


III. HẢI QUÂN

- Các tàu vận tải làm nhiệm vụ vận chuyển hàng gồm HMAS Sydney (05/1965 - 03/1972), HMAS Jerapit (06/1966 - 03/1972) và HMAS Boonaroo (06/1966).

- Các tàu chiến làm nhiệm vụ chi viện hoả lực gồm các khu trục hạm HMAS Brisbane (03 - 10/1969, 03 - 10/1971), HMAS Perth (09/1967 - 04/1968, 09/1968 - 04/69, 9/70-4/71), HMAS Hobart (03 - 09/1967, 03 - 10/1968, 03 - 10/1970), HMAS Vendetta (09/1969 - 04/1970), được phối thuộc cho Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ.

- Một phi đội trực thăng được phối thuộc cho Đại đội trực thăng xung kích 135 của Lục quân Mỹ, hoạt động từ 10/1967 - 06/1971.

- Đội thợ lặn 3, được bố trí phục vụ phòng thủ cảng Vũng Tàu (02/1967 - 08/1970) và Đà Nẵng (08/1970 - 04/1971).

 

PHILIPPINES


Tháng 08/1964, quân đội Philippines cử sang một nhóm 16 sĩ quan hỗ trợ QLVNCH về chiến tranh tâm lý và hoạt động dân sự. Đến 09/1966 một lực lượng Philippines được gửi sang Việt Nam, được tổ chức thành Đoàn Công tác dân sự số 1 (1st Philippine Civic Action Group - PHILCAG) với quân số 2.060 người, triển khai tới 1/1970. Căn cứ của PHILCAG đặt ở Tây Ninh, trong thời gian hoạt động có rất ít đụng độ giữa lực lượng PHILCAG với Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tổn thất ở Việt Nam là 2 người chết và 17 người bị thương.

Thành phần:

- Tiểu đoàn pháo binh 105mm.

- Tiểu đoàn an ninh.

- Tiểu đoàn công binh công trình.

- Tiểu đoàn quân y.

- Các đơn vị hành chính và hậu cần.


NEW ZEALAND



Từ 07/1965 - 06/1972, New Zealand đưa sang Việt Nam một lực lượng nhỏ mang phiên hiệu Lực lượng V gồm bộ binh, pháo binh và các đơn vị khác. Đơn vị này có quân số 566 người, được sáp nhập với các đơn vị Australia để tạo thành lực lượng hỗn hợp ANZAC (Australian-New Zealand Army Corps). Tổn thất ở Việt Nam là 55 người chết và 212 người bị thương.

Các đơn vị New Zealand ở Việt Nam gồm:

- Đại đội pháo binh 161 (pháo 105mm), 7/1965 - 3/1971.

- Đại đội bộ binh V thuộc Tiểu đoàn New Zealand Lữ đoàn 28 Khối thịnh vượng chung, 5/1967 - cuối 1971.

- Đại đội bộ binh W thuộc tiểu đoàn New Zealand Lữ đoàn 28 Khối thịnh vượng chung, 12/1967 - 11/1970.

- Đại đội 4 thuộc lực lượng đặc nhiệm đường không (SAS).

- Một bộ phận không quân gồm 155 người, trong đó có bộ phận Phi đội 9 trực thăng vũ trang, đơn vị máy bay vận tải Briton và trinh sát đường không.

- Hai đội huấn luyện gồm 43 người, làm nhiệm vụ huấn luyện các đơn vị bộ binh Campuchia.

- Các đơn vị bảo đảm khác.



TRUNG HOA DÂN QUỐC


Từ tháng 10/1968, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) cử sang Việt Nam một đoàn cố vấn quân sự gồm 31 người, chia làm 6 nhóm hoạt động ở 4 Vùng chiến thuật, Biệt khu Thủ đô và Trường võ bị Đà Lạt.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam 1964 - 1973, NXB Quân đội nhân dân, 2009.

Shelby L. Stanton, Vietnam Order of Battle: A Complete Illustrated Reference to U.S. Army Combat and Support Forces in Vietnam 1961-1973, U.S News Books, Washington D.C.  

Lt Gen Stanley R. Larsen & Brig Gen James L. Collins, Jr, Allied Participation in Vietnam, Department of the Army, Washington, D.C. 1985  

Australian Order of Battle for Vietnam 1962-1972 © Brian Ross

Website: http://www.rjsmith.com/kia_tbl.html

Newer news items:
Older news items: